11:54 ICT Thứ hai, 18/12/2017

Trang nhất » Tin Tức » Hội thảo khoa học

Đường lối và sự chỉ đạo chiến lược của Đảng trong cuộc tiến công chiến lược Xuân - Hè 1972 và Chiến dịch giải phóng Quảng Trị

Thứ sáu - 20/04/2012 09:32

PGS. TS. Nguyễn Trọng Phúc
(Nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng)

 
Để nhận thức đầy đủ, sâu sắc về đường lối, quyết tâm chiến lược và chỉ đạo của Trung ương Đảng và Bộ Chính trị trong cuộc tiến công chiến lược Xuân - Hè 1972, không thể không trở lại diễn biến lịch sử từ 4 năm trước đó.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 trên toàn miền Nam đã buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận đàm phán tại Hội nghị Pari từ ngày 13-5-1968 và ngừng ném bom miền Bắc từ ngày 1-11-1968, từng bước phi Mỹ hóa chiến tranh Việt Nam. Tháng 11-1968, Níchxơn trúng cử Tổng thống Hoa Kỳ. Ông chủ mới của Nhà Trắng đã đề ra Học thuyết Níchxơn và chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.
“Mục đích của học thuyết này vẫn nhằm duy trì vai trò bá chủ, vai trò sen đầm quốc tế của Mỹ, tiếp tục thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ trên thế giới. Sự thay đổi chỉ là ở phương pháp và thủ đoạn tiến hành; về mặt này nội dung chủ yếu là dựa vào sức mạnh của Mỹ, đồng thời dựa nhiều hơn trước vào sức người và sức của của các nước đồng minh, vào sự liên minh ở các khu vực; mặt khác ra sức chia rẽ phe xã hội chủ nghĩa, đề ra tiến hành thương lượng nhưng chỉ thương lượng trên thế mạnh”[1]. Về quân sự, Mỹ từ bỏ chiến lược “phản ứng linh hoạt” và thay bằng chiến lược “đe dọa và ngăn ngừa”. Học thuyết Níchxơn được thực hiện ở Việt Nam bằng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Mỹ đẩy mạnh chiến tranh bằng phương thức mới, bình định toàn diện, tăng cường ngụy quân, củng cố chính quyền tay sai, tạo điều kiện rút dần quân Mỹ và chấm dứt vai trò chiến đấu của lục quân Mỹ. Sức mạnh của Mỹ là lực lượng không quân, hải quân kết hợp với lực lượng tay sai. Bản chất của “Việt Nam hóa chiến tranh” là tiếp tục chiến tranh bằng xương máu của quân đội Sài Gòn tay sai Mỹ, như đại sứ Mỹ ở Sài Gòn khi đó là Bân Cơ đã đề cập, chỉ là “thay màu da trên xác chết”.
Từ giữa năm 1969, chính quyền Níchxơn với ý đồ uy hiếp miền Bắc, thu hút lực lượng để giảm sự chi viện cho miền Nam, đã tập trung một lực lượng lớn của Vàng Pao, có sự phối hợp của không quân Mỹ, đã mở cuộc tấn công lớn đánh chiếm cánh đồng Chum (Lào). Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với quân giải phóng Lào đã đánh bại mọi cố gắng của địch, giành thắng lợi lớn, làm thất bại một bước quan trọng chủ trương “Lào hóa, chiến tranh”. Đầu năm 1970, bất chấp mọi luật pháp quốc tế, chính quyền Níchxơn đã huy động lực lượng lớn quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn tiến công xâm lược nước Campuchia trung lập, “nhằm đánh phá chỗ đứng chân và cơ sở hậu cần, tiêu diệt lực lượng của quân giải phóng, đồng thời tăng cường vị trí của Mỹ ở Campuchia”[2]. Với sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, lực lượng kháng chiến của Campuchia phát triển mạnh mẽ. Mùa xuân 1971, Mỹ và chính quyền Sài Gòn huy động lực lượng lớn mở cuộc phiêu lưu quân sự ra chiến trường Đường 9 - Nam Lào. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào mở ra triển vọng đánh bại về quân sự chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.
Với thắng lợi và sự phát triển trên các chiến trường, với quyết tâm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 19 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 3-1971) đã khẳng định phải kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến và nêu rõ: “Nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta lúc này ... kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, nêu cao ý chí quyết chiến quyết thắng, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, bảo vệ và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà, đồng thời làm tròn nghĩa vụ quốc tế[3]. Quân và dân miền Nam phải đập tan kế hoạch “bình định”, đánh bại kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” của địch, làm cho ngụy quân, ngụy quyền phải sụp đổ và buộc đế quốc Mỹ phải rút nhanh, rút hết quân Mỹ và quân các nước chư hầu ra khỏi miền Nam nước ta, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn”2.
Năm 1971, cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương giành được những thắng lợi to lớn. Đó là chiến thắng Đường 9 - Nam Lào từ ngày 30-1 đến ngày 23-3-1971; chiến dịch Chen La II ở Campuchia từ ngày 20-10 đến ngày 4-12-1971; chiến thắng Cánh đồng Chum, Xiêng Khoảng từ ngày 18-12-1971 đến đầu năm 1972. Đầu năm 1972, Mỹ đã buộc phải rút khoảng 40 vạn quân khỏi miền Nam, để lại bộ phận quan trọng không quân và hải quân. Ngay từ năm 1968, Mỹ đã nhận thấy không thể thắng được bằng quân sự trong chiến tranh Việt Nam. Nhưng mưu đồ áp đặt chế độ thực dân mới ở Việt Nam của chúng không thay đổi. Mỹ muốn củng cố sức mạnh của các chế độ tay sai ở miền Nam Việt Nam Lào và, Campuchia cả khi quân Mỹ đã rút hết về nước. Trên bàn đàm phán ở Hội nghị Pari, Mỹ đòi quân đội miền Bắc Việt Nam phải rút hết khỏi miền Nam, đồng thời với việc quân Mỹ rút về nước. Đó là thủ đoạn xảo quyệt và ngang ngược. Thái độ của ta trước sau như một là: Mỹ và các nước chư hầu xâm lược Việt Nam là chà đạp một quốc gia độc lập có chủ quyền, vi phạm luật pháp quốc tế, vì vậy quân xâm lược phải rút ngay, rút hết về nước không điều kiện; nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, nên quân đội và nhân dân Việt Nam có quyền đến bất cứ nơi nào trên đất nước Việt Nam để đánh đuổi quân xâm lược.
Không thể phủ nhận chân lý hiển nhiên đó, song đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố kéo dài và mở rộng chiến tranh với lực lượng quân đội tay sai là chủ yếu và với sự phối hợp sức mạnh tối đa của không quân và hải quân Mỹ. Cục diện chiến trường từ năm 1971, nhất là năm 1972, đã theo hướng đó và địa bàn Đường 9 - Nam Lào, Trị - Thiên đã thật sự trở thành nơi đối đầu quyết liệt nhất.
Báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị lần thứ 20 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III họp từ ngày 27-1 đến ngày 11-2-1972 đã phân tích so sánh lực lượng giữa ta và địch, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của chính quyền Níchxơn và đi đến nhận định, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể phát triển theo hai khả năng: khả năng thứ nhất là ta thắng lớn, địch thất bại nặng, Mỹ buộc phải chấm dứt chiến tranh bằng một giải pháp chính trị; khả năng thứ hai là chính quyền Mỹ ngoan cố, tìm mọi cách thực hiện “Việt Nam hóa chiến tranh”. Dù khả năng nào vẫn phải tiến công quân sự, chính trị, kết hợp với tiến công ngoại giao, buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng một giải pháp chính trị có lợi cho ta mà Mỹ có thể chấp nhận được. Bộ Chính trị chủ trương: “tập trung toàn lực, có cố gắng to lớn, đẩy mạnh tiến công quân sự và chính trị trên cả ba vùng chiến lược ở miền Nam nước ta và phối hợp chiến đấu với nhân dân hai nước Bạn, kiên quyết đánh bại kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” và học thuyết Níchxơn bằng ba đòn chiến lược:
- Đòn chiến lược của bộ đội chủ lực trên những chiến trường có lợi;
- Đòn chiến lược tiến công và nổi dậy ở vùng nông thôn đồng bằng;
- Đòn đấu tranh cách mạng của quần chúng ở các thành thị”[4].
“Nhiệm vụ đòn chiến lược của bộ đội chủ lực trên những phương hướng và những chiến trường có lợi, là tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng quân ngụy, phá vỡ từng bộ phận thế bố trí phòng ngự của địch, mở rộng vùng giải phóng”2. “Nhiệm vụ của đòn tiến công và nổi dậy ở các vùng nông thôn đồng bằng quan trọng là kết hợp tiến công quân sự, chính trị và binh vận, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích và phong trào nổi dậy của quần chúng, căn cứ vào điều kiện và khả năng cụ thể từng chiến trường mà tiến hành những chiến dịch tổng hợp, nhằm tiêu diệt và làm tan rã lực lượng địa phương của địch, nhất là lực lượng kìm kẹp; tiêu diệt, bao vây và bức hàng các đồn bốt, phá mảng mở vùng, đánh bại kế hoạch bình định của địch, thu hẹp phạm vi kiểm soát của chúng, mở rộng địa bàn giải phóng của ta. Cần ra sức tăng cường lực lượng ở cơ sở: các tổ chức Đảng và tổ chức quần chúng, lực lượng du kích và bộ đội địa phương”1. Nhiệm vụ phong trào đấu tranh của nhân dân các thành thị là phải động viên, tập hợp và tổ chức quần chúng rộng rãi, nhanh chóng hình thành đội quân chính trị đông đảo, kết hợp đấu tranh cách mạng của quần chúng với việc khoét sâu và lợi dụng mâu thuẫn nội bộ địch.
Chủ trương và quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng và Bộ Chính trị đã được xác định từ Hội nghị Trung ương 19 (tháng 3-1971) và được cụ thể hóa tại Báo cáo của Bộ Chính trị ở Hội nghị Trung ương 20 (tháng 2-1972). Cần nhấn mạnh rằng, từ giữa năm 1971, nhất là đầu năm 1972, chính quyền Níchxơn đã có những động thái ngoại giao giữa các nước lớn hòng cô lập cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam gây sức ép từ các phía, quyết tâm thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, chia cắt lâu dài nước Việt Nam. Báo cáo của Bộ Chính trị (tháng 2-1972) nhận định: “Tình hình quốc tế đang có những sự thay đổi về nhiều mặt. Đế quốc Mỹ đang thi thố nhiều mưu ma chước qủy, tìm mọi cách lợi dụng những mâu thuẫn, những thiên hướng tiêu cực hoặc sai lầm trong quan hệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa”2. Hội nghị lần thứ 20 Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhận định: “Năm 1972 là năm hết sức quan trọng trong cuộc đấu tranh giữa ta và địch trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. So sánh lực lượng và thế chiến lược trên các chiến trường đang thay đổi ngày càng có lợi cho ta. Chúng ta đang đứng trước thời cơ thuận lợi để đưa cuộc kháng chiến tiến lên mạnh mẽ”1. Phải động viên toàn lực, cố gắng vượt bậc, kịp thời nắm vững thời cơ thuận lợi và tạo nên thời cơ mới.
Trên chiến trường miền Nam, phải nắm vững đường lối, phương châm chiến lược của Đảng và quy luật của chiến tranh cách mạng, phát triển mạnh mẽ thế tiến công địch trên cả ba vùng, đánh địch bằng ba đòn chiến lược. Phải “ra sức tăng cường thực lực của cách mạng: xây dựng ba thứ quân lớn mạnh và lực lượng chính trị hùng hậu, xây dựng và bảo vệ vững chắc tuyến hành lang chiến lược, xây dựng hậu phương tại chỗ và căn cứ địa vững mạnh, làm tốt việc tổ chức chiến trường. Phải kiên quyết phấn đấu làm cho lực lượng quân sự và lực lượng chính trị của ta mạnh hơn lực lượng còn lại của địch và có một thế bố trí mạnh trên cả ba vùng chiến lược”2.
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 20 Ban Chấp hành Trung ương và Quyết định của Bộ Chính trị ngày 11-3-1972, Quân ủy Trung ương đã ra nghị quyết về kế hoạch mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam. Đây là cuộc tiến công chiến lược có quy mô lớn bao gồm nhiều chiến dịch của bộ đội chủ lực kết hợp với sự nổi dậy của nhân dân trên các địa bàn quan trọng. Mục tiêu là tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng địch, giải phóng những vùng đất đai rộng lớn, làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch, buộc địch phải chấp nhận một giải pháp chính trị theo điều kiện của ta. Quân ủy Trung ương chọn chiến trường Trị - Thiên là hướng chủ yếu của cuộc tiến công chiến lược. Trị - Thiên là chiến trường có tầm quan trọng về chiến lược đối với chiến trường toàn miền Nam, cũng là nơi ta có điều kiện thuận lợi hơn các chiến trường khác, có thể phát huy sức mạnh mọi mặt để đánh những đòn tiêu diệt lớn. Cùng với chiến trường chính ở Trị - Thiên cần phải tổ chức các chiến dịch quy mô vừa và lớn ở Tây Nguyên, khu V, Đông Nam Bộ để hình thành cuộc tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam.
Bộ Chính trị họp ngày 23-3-1972 để nghe Thường vụ Quân ủy Trung ương báo cáo tình hình và kế hoạch cuộc tiến công. Bộ Chính trị hoàn toàn nhất trí thông qua kế hoạch của Quân ủy Trung ương về cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Phải gấp rút chuẩn bị về mọi mặt vì thời gian còn rất ít. Tết năm Nhâm Tý đã qua lâu vẫn không thấy quân giải phóng tiến công, địch bắt đầu chủ quan và tin vào thắng lợi của “Việt Nam hóa chiến tranh”.
Vào thời điểm địch chủ quan, sơ hở, 11 giờ 30 phút ngày 30-3-1972 cuộc tiến công chiến lược của ta bắt đầu. Trung ương Đảng đã gửi thư cho các cấp ủy Đảng, các cấp chỉ huy cùng toàn thể đảng viên, đoàn viên, cán bộ, chiến sĩ trên các mặt trận động viên tinh thần chiến đấu và xác định quyết tâm chiến lược, mục tiêu của cuộc tiến công chiến lược. Trên toàn chiến trường miền Nam diễn ra ba chiến dịch quy mô lớn: Chiến dịch Trị - Thiên (từ ngày 30-3 đến ngày 27-6-1972); chiến dịch Bắc Tây Nguyên (từ ngày 30-3 đến ngày 5-6-1972) và chiến dịch Nguyễn Huệ ở Đông Nam Bộ (từ ngày 31-3-1972 đến ngày 2-6-1973).
Chiến dịch Trị - Thiên là chiến dịch có quy mô lớn nhất và diễn ra ác liệt nhất. Từ 11 giờ 30 phút ngày 30-3-1972, bộ đội chủ lực phối hợp với bộ đội địa phương, phát huy sức mạnh hiệp đồng binh chủng tiến công vào tuyến phòng thủ Đường 9 của địch. Sau 5 ngày chiến đấu phá vỡ tuyến phòng thủ Đường 9 của địch, giải phóng hoàn toàn 2 huyện Gio Linh và Cam Lộ, uy hiếp Đông Hà, ái Tử và La Vang. Trước nguy cơ mất Quảng Trị, ngày 3-4-1972, địch phản kích quyết liệt với 5 trung đoàn bộ binh, 2 trung đoàn thiết giáp ra Trị - Thiên, lập tập đoàn phòng thủ mạnh gồm ba cụm: Đông Hà, ái Tử, La Vang, tăng cường hỏa lực không quân, kể cả dùng B.52. Ngày 6-4-1972, Mỹ ném bom miền Bắc bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai. Cuộc tấn công của quân ta vào Đông Hà ngày 8-4-1972 không thành công, phải chuẩn bị thêm. Sau một thời gian chuẩn bị, cuối tháng 4, quân ta tiến công vào cụm phòng thủ trung tâm của địch và ngày 1-5-1972 quân địch phải rút khỏi thị xã Quảng Trị. Đại tá cố vấn Mỹ và Chuẩn tướng Vũ Văn Giai (Tư lệnh Sư đoàn 3 ngụy) bỏ chạy bằng máy bay lên thẳng. Quảng Trị là tỉnh đầu tiên ở miền Nam được hoàn toàn giải phóng gồm hơn 10 vạn dân. Đó là thắng lợi của những đòn tiến công chiến lược của bộ đội chủ lực kết hợp với sự nổi dậy của quần chúng nhân dân.
Sau hai tháng mở cuộc tiến công chiến lược, ngày 1-6-1972, Bộ Chính trị họp đánh giá tình hình, khẳng định quân và dân ta đã thu được thắng lợi rất lớn, tạo nên cơ hội mới để đánh bại về cơ bản chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ. Bộ Chính trị cho rằng, đòn tiến công của chủ lực tuy giành thắng lợi lớn nhưng chưa triệt để lợi dụng những thời cơ thuận lợi để phát triển tiến công; phong trào tiến công và nổi dậy phá bình định ở nông thôn chưa được đẩy mạnh đều khắp; phong trào đấu tranh ở các thành thị chưa phát triển. Đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố mở rộng chiến tranh do bản chất hiếu chiến của chúng và cũng do tình hình quốc tế có những diễn biến phức tạp.
Bộ Chính trị chủ trương tiếp tục đẩy mạnh cuộc tiến công chiến lược trên chiến trường miền Nam và đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, bảo vệ vững chắc miền Bắc.
ở miền Nam, quân đội Sài Gòn được không quân và hải quân Mỹ phối hợp đã phản kích quyết liệt, đặc biệt trên mặt trận Quảng Trị, nơi được chúng coi là mục tiêu quân sự và chính trị số 1. Ngày 28-6-1972, địch sử dụng hai sư đoàn cơ động chiến lược (Sư đoàn dù và Sư đoàn thủy quân lục chiến) mở cuộc phản công quy mô lớn nhằm chiếm lại thị xã Quảng Trị, tạo thế quân sự cho cuộc đàm phán ở Pari. Cuộc chiến đấu quyết liệt giữa quân ta và quân địch diễn ra tại Thành Cổ Quảng Trị suốt 81 ngày đêm (từ ngày 28-6 đến ngày 16-9-1972). Cả nước hướng về Quảng Trị và chia lửa với mặt trận Quảng Trị. Do không đánh giá đúng sức mạnh mới của địch, ta đã không kịp thời chuyển hình thức tác chiến thích hợp mà vẫn chủ trương tiếp tục tiến công địch trong thế bất lợi nên lực lượng của ta tổn thất lớn, lúng túng, bị động, thế trận phòng ngự vững chắc của ta chậm được hình thành, phủ nhận vai trò của chiến dịch phòng ngự. Ngày 16-9-1972, địch chiếm lại Thị xã và Thành Cổ Quảng Trị. Hàng vạn người con Việt Nam đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng, hy sinh trên mặt trận Quảng Trị.
Cuộc tiến công chiến lược xuân - hè 1972 khẳng định bước phát triển mới cả về thế và lực của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam. Với chiến thắng đó và với chiến công đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội từ ngày 18 đến ngày 29-12-1972, đã buộc Mỹ phải trở lại bàn đàm phán và ký Hiệp định Pari ngày 27-1-1973. Ngày 29-3-1973, quân đội Mỹ đã phải rút hết khỏi miền Nam Việt Nam và làm lễ cuốn cờ.
Đúng 1 năm sau ngày cuộc tiến công chiến lược Xuân - Hè 1972 bắt đầu, quân Mỹ xâm lược phải rút hết khỏi miền Nam. Và với Hiệp định Pari, Mỹ phải cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam. Điều 1 Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, đã ghi rõ: “Hoa Kỳ và cả nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam đã công nhận”. Đó là cơ sở hiện thực và pháp lý cực kỳ quan trọng để đưa cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam đến thắng lợi hoàn toàn vào mùa Xuân 1975, thống nhất đất nước. Với nhận thức như thế mới thấy hết tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của những chiến công của quân dân cả nước năm 1972, trong đó có chiến công vẻ vang giải phóng tỉnh Quảng Trị và cuộc chiến đấu ngoan cường ở Thành Cổ Quảng Trị.



[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t.33, tr. 16.
[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.33, tr. 21.
[3], 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.32, tr. 196.
[4], 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.33, tr. 42-43, 43.
1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.33, tr. 43-44, 42.
1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.33, tr. 143, 145.
Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn